UNIDO với một số sáng kiến về quản lý chất thải điện tử


Với tiềm năng to lớn, ngành thủy sản sẽ đóng vai trò động lực, đi đầu trong công cuộc đột phá phát triển “Mô hình sản xuất nông nghiệp đa chức năng”, một nội dung quan trọng trong Thông điệp đầu năm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Sứ mệnh đặc biệt
Với tổng sản lượng thuỷ sản năm 2013 đạt gần 6 triệu tấn đã giúp nâng bình quân đầu người dân Việt Nam một năm về thuỷ sản lên hơn 66,5kg. Đây là con số có ý nghĩa hết sức đặc biệt đối với đời sống kinh tế – xã hội người Việt Nam hôm nay. Bởi với một nước trên 90 triệu dân, mà tổng sản lượng các loại thịt gia súc gia cầm năm 2013 mới đạt khoảng 4,3 triệu “tấn hơi xuất chuồng”, nghĩa là Việt Nam còn là “quốc gia nghèo” về nguồn thịt thực phẩm. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới phát triển thể chất giống nòi. Như vậy, nếu nghèo cả “tôm – cá” ở cả vĩ mô, cả chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chắc chắn không thể kiềm giữ được lạm phát ở mức như hiện nay.
Với nhịp độ tăng trưởng khoảng 5,5%/năm trong 3-4 năm gần đây, theo số liệu Tổng cục Thống kê, tổng sản lượng thuỷ sản năm 2013 lớn gấp gần 2 lần năm 2005. Giá trị sản xuất thuỷ sản theo giá hiện hành từ 63.678 tỷ đồng năm 2005 tăng lên hơn 230.000 tỷ đồng năm 2013, gấp 3,5 lần so năm 2005… Nhờ đó, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản năm 2013 đã đạt trên 6,7 tỷ USD, loại trừ kim ngạch nhập khẩu, thủy sản xuất siêu trên 6 tỷ USD, trở thành mặt hàng xuất siêu lớn thứ 4 của cả nước và là mặt hàng duy nhất có yếu tố trong nước sau 3 mặt hàng có yếu tố ngoại quốc (điện thoại di động, dệt may-giày dép và dầu thô). Trong đó, đáng chú ý, riêng tôm đông lạnh xuất khẩu từ 1,27 tỷ USD năm 2005 lên gần 2 tỷ USD năm 2013, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu tôm hàng đầu thế giới, và cá đông lạnh xuất khẩu (chủ yếu cá tra, cá basa) cũng từ 0,6 tỷ USD năm 2005 lên khoảng 2,5 tỷ USD năm 2013…
Từ các góc nhìn vĩ mô có thể khẳng định, ngành thuỷ sản đang và sẽ là một trong những ngành mũi nhọn sáng giá của nền kinh tế biển Việt Nam, cả hiện tại và tương lai.
Tăng đầu tư, mở rộng liên kết
Đạt được kết quả nêu trên là nhờ sự hỗ trợ to lớn và hiệu quả của Nhà nước, mà tiêu biểu là sự phát triển vượt bậc của đội tàu khai thác hải sản xa bờ với tổng công suất vượt 6 triệu CV, gấp hơn 2 lần năm 2005, theo Tổng cục Thống kê, hiện có khoảng 28.000 chiếc tàu so với 20.537 chiếc năm 2005. Tuy nhiên, những kết quả đạt được, theo đánh giá của các chuyên gia, vẫn chưa tương xứng với tiềm năng biển của Việt Nam.
Hơn 66kg thuỷ sản/đầu người/năm vẫn là con số khiêm tốn so với nhiều quốc gia có biển trên thế giới. Năm qua cả nước đã phải nhập khẩu hàng triệu tấn thức ăn chăn nuôi trị giá hơn 3 tỷ USD, tăng 23,6% so năm trước, trong đó, ngoài ngô, đậu tương, khô lạc thì bột cá luôn là chất liệu chủ lực mà nhập khẩu mỗi năm một nhiều. Có thể nói, ngành chăn nuôi gia súc gia cầm ở Việt Nam chưa phát triển được như mục tiêu kế hoạch đề ra từ hơn 10 năm trước, một phần là do thiếu sự “hậu cần, hậu thuẫn” của ngành thuỷ sản.
Hơn nữa, hiện còn rất thiếu những sản phẩm thuỷ sản chế biến cao cấp, có giá trị gia tăng cao, là những sản phẩm có thể phục vụ đắc lực cho các hoạt động du lịch và xuất khẩu. Nguyên nhân xuất phát từ sự “…thiếu liên kết, năng suất và chất lượng thấp trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt”, đánh giá của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Theo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Nhà nước sẽ có cơ chế chính sách thúc đẩy ứng dụng sâu rộng khoa học công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin vào sản xuất, quản lý nông nghiệp và đẩy nhanh CNH nông nghiệp, HĐH nông thôn. Hình thành chuỗi giá trị, bảo đảm hài hoà lợi ích của các chủ thể tham gia từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ. Từng bước hình thành những tổ hợp nông – công nghiệp – dịch vụ công nghệ cao gắn kết chặt chẽ với người nông dân và hướng tới xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp đa chức năng, phát triển bền vững.
Hiện thực hóa những ý tưởng nêu trên của Thủ tướng Chính phủ, không chỉ ngành trồng trọt, chăn nuôi, mà cả ngành thuỷ sản sẽ có bước đột phá phát triển, đưa nền nông nghiệp Việt Nam tiến lên phát triển toàn diện, bền vững.
Tuy vậy, bên cạnh những chính sách, giải pháp của Chính phủ, rất cần mở rộng liên kết liên doanh, hợp tác đầu tư trong nước, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài, để lấp đầy dần “vùng lõm” trong khu vực nông – lâm – thuỷ sản hiên chỉ chiếm chưa đầy 1,5% tổng vốn FDI tại Việt Nam./.
Theo VEN
Sáng 9/1/2014, Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Thái Bình tổ chức tổng kết hoạt động năm 2013 và triển khai phương hướng, nhiệm vụ năm 2014. Tới tham dự hội nghị có sự có mặt của đồng chí Phạm Văn Xuyên – Phó chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình, đại diện các doanh nghiệp, đại diện các Sở, ngành tỉnh Thái Bình và đại diện Quỹ Ủy thác tín dụng xanh giới thiệu Quỹ tới các doanh nghiệp.
Tại hội nghị, ông Bùi Đình Trọng Phó trưởng ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Thái Bình đã báo cáo tổng kết hoạt động các khu công nghiệp năm 2013 và nêu rõ phương hướng và nhiệm vụ năm 2014.
Tính tới năm 2013, trên địa bàn tỉnh có 05 khu công nghiệp đã thành lập theo quy định của Chính phủ là Phúc Khánh, Nguyễn Đức Cảnh, Gia Lễ, Sông Trà và Cầu Nghìn với 138 dự án đầu tư và ước tính 47.400 lao động làm việc. Giá trị sản xuất đạt hơn 4.900 tỷ đồng, tăng 13,7% so với cùng kì năm trước. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ở các khu công nghiệp trong năm cơ bản ổn định, tốc độ tăng trưởng khá. Tuy nhiên, còn nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất, một số doanh nghiệp sản xuất cầm chừng, thậm chí tạm ngừng sản xuất.
Trong định hướng phát triển và nhiệm vụ đề ra cho năm 2014, ngoài việc tiếp tục thu hút các dự án đầu tư lớn và có giá trị gia tăng cao, Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh cũng như các doanh nghiệp đều nhận thấy tầm quan trọng của sản xuất bền vững và thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, các doanh nghiệp hiện đang gặp khó khăn về vốn cũng như còn chưa được tiếp cận với các công nghệ sản xuất mới hiện đại.
Bà Nguyễn Lê Hằng – Điều phối viên quỹ Ủy thác Tín dụng xanh giới thiệu nguồn Quỹ
Nhằm giúp đỡ doanh nghiệp tháo gỡ những khó khăn này, bà Nguyễn Lê Hằng – điều phối viên quỹ Ủy thác Tín dụng xanh (GCTF) thuộc Trung tâm sản xuất sạch hơn Việt Nam (VNCPC) đã giới thiệu đến các doanh nghiệp nguồn quỹ đầu tư của chính phủ Thụy Sỹ. Quỹ GCTF là nguồn vốn ưu đãi bảo lãnh tới 50% tổng giá trị đầu tư công nghệ cho các doanh nghiệp và trả thưởng tối đa tới 25% tổng giá trị đầu tư sau khi đầu tư công nghệ đạt các tiêu chí trả thưởng của quỹ. Đây là môt giải pháp rất hấp dẫn giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các công nghiệp hiện đại trong sản xuất, tăng tính cạnh tranh cho các doanh nghiệp và hướng các doanh nghiệp tới phát triển bền vững.
Đại diện doanh nghiệp phát biểu ý kiến tại Hội nghị
Tại hội nghị, rất nhiều các doanh nghiệp đã bày tỏ sự quan tâm được tiếp cận với Quỹ để kịp thời tháo gỡ khó khăn và duy trì phát triển sản xuất kinh doanh cụ thể như công ty cổ phần ô tô An Thái Coneco, Nhà máy bao bì HDI.
Thông qua hội nghị tổng kết khu công nghiệp tỉnh Thái Bình, buổi giới thiệu Quỹ Ủy thác tín dụng xanh đã diễn ra thành công tốt đẹp và mở ra các cơ hội hợp tác của Quỹ với các doanh nghiệp tại tỉnh nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và góp phần phát triển hiệu quả của các khu công nghiệp.
Admin GCTF-VNCPC, tháng 1/2014


Thị trường EU phụ thuộc vào nguồn thủy sản NK để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ cá và thủy sản. Năm 2013, khả năng tự cung thủy sản của EU chỉ có thể đáp ứng nhu cầu đủ cho đến ngày 7/7, cho thấy gần một nửa tiêu thụ thủy sản của EU phụ thuộc vào nguồn NK.
Năm 2011, các loài cá NK như cá minh thái Alaska, cá ngừ và cá tra chiếm tới 40,3% tổng lượng tiêu thụ của Đức. Tại Hà Lan, cá ngừ đứng vị trí thứ 2, cá tra đứng vị trí thứ 3 về khối lượng trên thị trường.
Thị trường EU gồm 27 thị trường đơn lẻ với dân số dự kiến tăng thêm 21,3 triệu lên 522,3 triệu người vào năm 2030. Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) dự đoán tiêu thụ bình quân thủy sản sẽ tăng từ 22 lên 24 kg/người/năm. Do đó, EU vẫn sẽ là thị trường quan trọng cho sản phẩm cá và thủy sản.
Báo cáo của FAO về thị trường cá tra EU
Tháng 6/2013, FAO đưa ra báo cáo thị trường cá tra tại EU. Theo Eurostat, năm 2012, NK cá tra vào thị trường EU đạt 143.200 tấn, trị giá 376 triệu USD, giảm 22% về khối lượng và 24% về giá trị so với năm 2011. Giá trung bình NK giảm 2,4% còn 2,36 USD/kg năm 2012. Các thị trường chính tại EU là Tây Ban Nha, Hà Lan, Ba Lan và Đức đều giảm NK cá tra từ Việt Nam. Ngược lại, một số thị trường vẫn tăng trưởng như Bỉ, Hy Lạp và Latvia.
Tuy nhiên, tình hình vẫn khả quan tại một số thị trường như:
Đức: Dù NK cá tra vào Đức năm 2012 giảm nhưng cá tra vẫn phổ biến đối với người tiêu dùng tại đây. Đây là loài cá được tiêu thụ nhiều thứ 5 tại Đức. Mới đây, cá tra đạt tiêu chuẩn ASC đã có mặt trên thị trường. ASC là chứng nhận công nhận trại nuôi hoạt động có trách nhiệm và thân thiện với môi trường. Các sản phẩm cá tra dán nhãn ASC đầu tiên có xuất xứ từ 13 trại nuôi đạt ASC tại vùng ĐBSCL, chiếm 10% tổng sản lượng cá tra của Việt Nam. Hiện nay, sản phẩm dán nhãn ASC đã có mặt tại nhiều siêu thị trên toàn nước Đức như Topsea, Frosta, Femeg, Queens and Profish.
Pháp: Trong 10 năm gần đây, Tập đoàn Carrefour, nhà bán lẻ lớn thứ 2 thế giới luôn tích cực nâng cao chất lượng sản phẩm thủy sản. Nhận thức được yêu cầu khẩn cấp của toàn cầu trong việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản và tương lai của ngành thủy sản, Carrefour đã cam kết đóng góp vào việc tiêu thụ thủy sản bền vững.
Để đạt mục tiêu đề ra, Carrefour xây dựng chuỗi cung cấp thủy sản tươi và đông lạnh gắn liền với các mối quan tâm về môi trường và được chứng nhận đạt các tiêu chuẩn chất lượng khắt khe. Tất cả các sản phẩm cá tra tươi và đông lạnh của tập đoàn này đều có chứng nhận GlobalGAP.
Một trong những điểm chính trong chính sách của Carrefour là bảo đảm sự minh bạch và cung cấp thông tin cho người tiêu dùng. Carrefour chủ động liên kết người tiêu dùng với một trang web dành cho người tiêu dùng thủy sản đạt chứng nhận GlobalGAP. Trang web này là một phần của chiến dịch nâng cao nhận thức của người tiêu dùng của GlobalGAP.
Từ năm 2013, Carrefour in địa chỉ trang web www.mon-poisson.info trực tiếp trên bao gói của tất cả các sản phẩm cá tra đông lạnh bán dưới thương hiệu của Carrefour tại hệ thống siêu thị của tập đoàn tại EU. Trang web về nuôi trồng thủy sản sẽ cung cấp cho khách hàng của Carrefour các thông tin về tiêu chuẩn Thực hành nuôi tốt của GlobalGAL. Người tiêu dùng cũng có thể tra cứu xuất xứ của thủy sản họ ăn thông qua bằng công cụ tra cứu sử dụng bộ mã số 13 con số – số đăng ký GlobalGAP (GGN) – được GlobalGAP cấp riêng cho từng nhà sản xuất đạt chứng nhận và được ghi trên bao bì sản phẩm. Dữ liệu và công cụ tìm kiếm được đăng tải trên trang web của GlobeGAP và được kết nối với trang web www.mon-poisson.info.
Anh: Sainsbury là nhà bán lẻ lớn đầu tiên tại Anh giới thiệu sản phẩm cá tra đạt chứng nhận ASC (River Cobbler). Đây là một bước tiến trong xu hướng sử dụng nguồn cá thay thế được nuôi có trách nhiệm thay thế cá tuyết và cá haddock trên thị trường.
Cá tra có xuất xứ từ khu vực ĐBSCL, được nuôi thương phẩm từ đầu những năm 2000. Từ năm 2011, Sainsbury đã hợp tác với Hội đồng Nuôi trồng thủy sản (ASC) để đảm bảo cá mua từ Việt Nam đều đạt chứng nhận. Quy trình chứng nhận bao gồm hoạt động đánh giá các tiêu chí toàn diện về môi trường và xã hội do tiêu chuẩn ASC đề ra như: các yêu cầu đảm bảo tính đa dạng sinh học trong khu vực, tác động tới các cộng đồng xung quanh trại nuôi, thức ăn nuôi cá được lấy từ những nguồn cung bền vững và có thể truy xuất.
Theo hệ thống cảnh báo nhanh đối với thực phẩm và thức ăn chăn nuôi của EU (RASFF), cảnh báo đối với cá tra NK từ Việt Nam giảm đáng kể từ 24 trường hợp năm 2010 xuống còn 4 trường hợp năm 2012. Đồng thời số lô bị trả về giảm từ 14 lô xuống còn 2 lô.
Chính sách thu mua
Chính sách thu mua của các nhà bán lẻ hàng đầu EU thường gắn liền với các mục tiêu của các tổ chức phi chính phủ quốc tế; 75% trong số 20 nhà bán lẻ hàng đầu EU cam kết phát triển bền vững.
Các nhà bán lẻ đưa những cam kết tham gia chương trình chứng nhận nuôi trồng thủy sản vào trong chính sách thu mua của họ. Hiện EU có 5 nhóm chương trình chứng nhận nuôi trồng thủy sản chính: Hội đồng Quản lý Nuôi trồng thủy sản (ASC), Friend of the Sea (FOS), Liên minh Nuôi trồng thủy sản Toàn cầu (GAA), GlobalGAP và các chương trình nuôi sinh thái (ở trong và ngoài EU).
– ASC hợp tác với các nhà bán lẻ: Ahold (Hà Lan); Metro Group và Edeka (Đức); và Migros (Thụy Sĩ).
– Friend of the Sea cũng công bố lên trang web danh sách các nhà cung cấp thủy sản đạt chứng nhận của họ tại EU; trong đó ba nhà cung cấp chính cá tra tại EU chủ yếu ở Hà Lan và Thụy Sĩ.
– GAA hợp tác với: Aldi UK, ASDA, The Co-operative, Morrisons, Tesco và Waitrose (Anh); Delhaize (Bỉ); Metro Group và Rewe (Đức);
– Ủy ban Kỹ thuật Nuôi trồng thủy sản của GlobalGAP hợp tác với: Aldi Süd, Metro Group and Rewe (Đức); El Corte Inglés (Tây Ban Nha); Aldi UK, ASDA, Morrisons, Sainsburys and Tesco (Anh); Ahold (Hà Lan) và Carrefour (Pháp và Tây Ban Nha).
Nhận thức về tính bền vững của thủy sản phụ thuộc vào từng nhà bán lẻ tại từng quốc gia. Một số nhà bán lẻ của Anh là Marks & Spencer Plan A hay Sainsbury xếp thủy sản bền vững vào nhóm ý tưởng sáng kiến. Các nhà bán lẻ khác như Rewe (Đức) lại xây dựng thương hiệu riêng cho thủy sản bền vững như Pro Planet.
Các tiêu chí thu mua thủy sản nuôi của nhà bán lẻ có thể vượt khỏi tầm một chương trình chứng nhận đơn lẻ và bao gồm các vấn đề chính phải đối mặt như sức khỏe động vật, thức ăn nuôi thủy sản không chứ thành phần nguyên liệu biến đổi gen hay truy xuất nguồn gốc.
Sáng kiến của GSSI
Tổ chức Sáng kiến Thủy sản bền vững Toàn cầu (GSSI) đã đưa ra một sáng kiến mới bao gồm nhiệm vụ và những mục tiêu rõ ràng để giúp các nhà bán lẻ đánh giá các chương trình chứng nhận khác nhau.
Mục tiêu của GSSI là đưa ra một công cụ chung, nhất quán và mang tính toàn cầu cho các chương trình chứng nhận và dán nhãn thủy sản nhằm đảm bảo niềm tin trong việc cung cấp và quảng bá thủy sản bền vững tới người tiêu dùng trên toàn cầu, cũng như thúc đẩy sự phát triển của những chương trình chứng nhận đó.
GSSI đặt ra mục tiêu:
– Tạo ra sự đồng thuận đối với các tiêu chí và chỉ số để đo lường và so sánh các chương trình chứng nhận và dán nhãn thủy sản, nhằm tạo điều kiện thực hiện và áp dụng những chương trình này;
– Tạo ra nền tảng cho nhiều đối tượng khác nhau trong ngành hợp tác và trao đổi kiến thức về tính bền vững của thủy sản;
– Giảm thiểu chi phí thông qua loại bỏ sự trùng lặp và nâng cao tính hiệu quả của các chương trình chứng nhận và dán nhãn, từ đó tăng khả năng thích ứng và linh hoạt trong chuỗi cung cấp.
GSSI đang tiếp tục phát triển sáng kiến để tiến tới áp dụng trên quy mô toàn cầu vào năm 2015. Một số đối tượng trong ngành thủy sản tại EU đã tham gia sáng kiến này.
Xem Báo cáo bản tiếng Anh tại đây
Theo Vasep.com.vn
Công ty TNHH Trung tâm Sản xuất sạch hơn Việt Nam (VNCPC)
