UNIDO với một số sáng kiến về quản lý chất thải điện tử

Trong hai thập kỷ qua, việc quản lý chất thải điện tử đã được đưa vào chương trình nghị sự của nhiều nước phát triển và đang phát triển và trở thành vấn đề quan trọng cần được giải quyết ở quy mô toàn cẩu. Nhiều quốc gia đã hạn chế việc nhập khẩu chất thải điện tử trên lãnh thổ của mình, tuy nhiên vẫn còn một chặng đường dài để ngăn chặn những tác động của chúng tới môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Chất thải điện tử là các thiết bị điện và điện tử không , còn trong tình trạng sử dụng, trong đó có chứa cả các chất độc hại (thủy ngân, CFC, chì kính, pin…) và các chất có giá trị (vàng, bạc, palladium, bạch kim…). Vì vậy, việc tái chế, tái sử dụng và nâng cấp các thiết bị điện và điện tử cũ phải được xem xét khi đề cập đến vấn đề quản lý chất thải điện tử.
Công ước Basel về kiểm soát việc vận chuyển xuyên biên giới và xử lý các chất thải nguy hại có hiệu lực vào năm 1992 và được phê chuẩn tại Việt Nam vào năm 1995. Công ước quy định, bất kỳ quốc gia nào xuất khẩu các mặt hàng nguy hiểm thì phải đưa ra thông báo trước cho chính phủ của nước nhập khẩu và phải nhận được sự đổng ý nhập khẩu nhưng lại không cấm xuất khẩu chất thải nguy hại đến bất kỳ nơi nào. Công ước đã có tác động mạnh mẽ tới việc kinh doanh chất thải, tuy nhiên các điểu khoản trong Công ước vẫn chưa có các quy định về các mặt hàng cũ và chất thải điện tử.
Năm 1995, một bản sửa đổi bổ sung Công ước Basel đã nhận được sự ủng hộ từ các nước đang phát triển và liên minh của các tổ chức phi chính phủ nhưng nó đã không có hiệu lực do không có đủ số lượng các bên tham gia phê chuẩn. Mục đích của việc sửa đổi, bổ sung là để áp dụng một lệnh cấm chuyển tất cả mặt hàng chất thải nguy hại đến các nước kém phát triển, bao gồm cả các hoạt động tái chế.
Thị trường điện tử ở Việt Nam bùng nổ từ năm 2000 và tăng trung bình hàng năm là 20%. Tuy nhiên, sự tăng trưởng này đã đặt ra mối đe dọa đối với sức khỏe con người và môi trường. Năm 2010 đã có khoảng 3,86 triệu thiết bị hoặc 114.000 tấn sẽ bị loại bỏ tại Việt Nam. Con số này được dự kiến sẽ cao hơn gấp bốn lần vào nám 2025, đạt 17,2 triệu thiết bị hoặc 567.000 tấn. Trong số chất thải điện tử bị loại bỏ năm 2013, điện thoại di động đứng đầu tiên với 3.295.727 chiếc, tiếp đó là ti vi (1.293.210 chiếc), máy giặt (937.420), tủ lạnh (689.466), máy tính (420.850) và ACS (209.548).
Một nghiên cứu được thực hiện vào năm 2010 tại 3 điểm tái chế chất thải điện tử của Việt Nam là Trang Minh (vùng ngoại ô TP. Hải Phòng), Đông Mai và Bùi Dầu (tỉnh Hưng Yên) đã cho thấy, sự xuất hiện chất polychlorinated biphenyls và chất chống cháy brôm trong sữa của những phụ nữ tham gia tái chế chất thải điện tử không phù hợp hoặc sinh sống ở gần các điểm tái chế đó. Hai chất này đều thuộc loại các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy và sự tích tụ các hợp chất này do bị nhiễm bụi thông qua đường hô hấp và tiêu hóa. Điều đáng lo ngại là hấu hết, hoạt động tái chế chất thải ở Việt Nam vẫn còn thủ công, lạc hậu, bên cạnh đó, công tác quản lý và tiêu hủy chất thải thiếu sự kiểm soát đã tạo ra lượng khí thải độc hại cho môi trường và ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng.
Ở Việt Nam, đã áp dụng các biện pháp nhằm kiểm soát dòng chảy đến của các chất thải điện tử. Trong đó, Nghị định số 12/2006/ NĐ-CP tăng cường lệnh cấm nhập khẩu các thiết bị gia dụng cũ, bao gồm các mục đích nhập khẩu và tái sử dụng trực tiếp. Việt Nam nghiêm cấm nhập khẩu các chất thải điện, điện tử cho việc tái xuất khẩu với mọi mục đích, cũng như các hoạt động tiêu hủy chúng. Luật BVMT được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hanh từ ngày 1/7/2006 đã cải thiện trách nhiệm của các nhà sản xuất điện và điện tử bằng cách buộc họ phải thu hồi sản phẩm của mình khi chúng đã lỗi thời hoặc bị bỏ đi.
Các sáng kiến quốc tế như RoHS đã kiềm chế việc sử dụng các chất độc hại trong các thiết bị điện và điện tử. Trên thực tế, các công ty ở Việt Nam phải tuân theo luật RoHS để tiếp tục xuất khẩu sang các nước châu Âu và ngày càng nhiều nhà sản xuất đã chuyển hướng sang sản xuất xanh hơn và sạch hơn. Tuy nhiên, có một khoảng cách giữa các nguyên tắc trong chính sách và việc thực hiện trên thực tế. Việc buôn lậu các thiết bị điện, điện tử và sự tồn tại của các điểm tái chế không đúng cách đã và đang gây nguy hiểm cho môi trường. Chính phủ Việt Nam nên xem xét, điều chỉnh các quy định về việc lưu thông chất thải điện tử trong một bối cảnh hợp lý. Việc không tính đến nhập khẩu các sản phẩm cũ hoàn toàn không phải là lựa chọn khả thi nhất. Các sản phẩm cũ sẽ trở thành chất thải trung hạn và đó là lý do tại sao các hoạt động tái chế phù hợp nên được phát triển. Điều này chỉ có thể đạt được thông qua việc chính thức hóa các khu vực tái chế tại Việt Nam. Ba bước đầu tiên cho việc chính thức hóa các hoạt động tái chế sẽ là sự đăng ký của tất cả các cơ sở tái chế; thắt chặt các quy định về chất thải điện tử; thiết lập một khung thời gian đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn.
Triết lý “Best-of-Two-Worlds” là một giải pháp thực tế để xử lý chất thải điện tử tại Việt Nam. Cách tiếp cận này được UNIDO hỗ trợ để tìm cách lồng ghép các lợi thế so sánh của các nước phát triển và đang phát triển trong xử lý chất thải điện tử. Do đó, nó khuyến khích sự kết hợp của quá trình tiền xử lý tốt nhất để tiêu hủy các chất thải điện tử thông thường ở các nước đang phát triển với quá trình hậu xử lý tốt nhất để xử lý các phân đoạn phế thải nguy hiểm và phức tạp ở các cơ sở xử lý tinh vi trên thế giới. Nói cách khác, các phân đoạn có thể tái chế được trong nước cần được xử lý ở cấp địa phương và chỉ có các phân đoạn không thể xử lý được trong nước (như các bộ phận nguy hiểm, màn hình CRT hoặc PWB) sẽ được xuất khẩu sang quốc tế để xử lý và phục hồi lần cuối các kim loại quý (cụ thể là cho PWB). Cách tiếp cận này có ba ưu điểm chính: Đầu tiên nó khuyến khích sự hợp tác tốt hơn giữa các nước phát triển và đang phát triển trong việc xử lý chất thải điện tử. Thứ hai nó làm tăng hiệu suất thu hồi đối với các chất thải quý và có giá trị ở mức độ sơ chế khi phân loại và xử lý thủ công gây tổn thất kim loại ít hơn quá trình cơ học. Thứ ba, việc xử lý phế thải điện tử chứa chất nguy hại tại các cơ sở xử lý phế thải tinh vi hợp pháp trên thế giới làm giảm thiểu các tác động của việc tái chế đối với môi trường. Việt Nam là quốc gia lý tưởng để áp dụng triết lý “Best-of-Two-Worlds” vì nó kết hợp cả chi phí lao động thấp (thiết lập được các xử lý thông thường) và quy mô thị trường hạn chế (cho phép chuyển giao các phế thải điện tử nguy hại tới các cơ sở xử lý có kỹ thuật tiên tiến trên thế giới).
UNIDO có một mạng lưới quốc tế trong lĩnh vực quản lý chất thải điện tử và là một thành viên của Sáng kiến Giải quyết vấn đề chất thải điện tử (STEP). UNIDO đã thực hiện một dự án ở Uganda nhằm xây dựng một hệ thống thu gom và thành lập một cơ sở xử lý thủ công các chất thải điện tử. Mục đích của dự án là thúc đẩy sự hình thành ngành công nghiệp dịch vụ môi trường và góp phẩn gia tăng tuổi thọ các thiết bị điện và điện tử, đặc biệt là máy vi tính. UNIDO cũng hỗ trợ các cơ sở tiêu hủy chất thải điện tử ở Tanzania và Ethiopia mở rộng quy mô hoạt động nhằm giúp họ đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế. Ở khu vực Đông và Đông Nam Á, UNIDO đang lên kế hoạch thực hiện dự án phát triển các mô hình kinh doanh theo chu trình khép kín với mục đích nâng cao lợi ích chung của các nhà sản xuất và tái chế, đồng thời hướng dẫn việc thu gom, phân loại, chuyển giao và xử lý nhằm loại bỏ các chất thải hữu cơ khó phân hủy có trong các thiết bị điện và điện tử.
Với tình hình chất thải điện tử ở Việt Nam, UNIDO dự kiến sẽ khởi động một dự án mới với sự hỗ trợ của Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF). Mục tiêu của dự án tương lai này là thiết lập một hệ thống quản lý môi trường nhằm giảm phát thải thủy ngân và các chất thải hữu cơ khó phân hủy trong công nghiệp để giảm thiểu các rủi ro cho người dân và hệ sinh thái. Chính xác hơn, UNIDO dự kiến xem xét, cập nhật và phát triển các quy định hiện hành về quản lý chất thải điện tử, đồng thời tiến hành một cuộc kiểm kê quy mô quốc gia về thủy ngân, các chất thải hữu cơ khó phân hủy mới có trong chất thải điện tử và giới thiệu các công nghệ hiện có tốt nhất (BAT), các hoạt động môi trường tốt nhất (BEP) cho các doanh nghiệp và các bên liên quan thí điểm nhằm góp phần giải quyết các vấn đề về xử lý chất thải điện tử tại Việt Nam.
​​​​Theo Alice Crochet, Nguyễn Thị Mỹ Hoàng – Văn phòng UNIDO tại Việt Nam

“Mô hình sản xuất nông nghiệp đa chức năng”: Vận hội mới cho ngành thủy sản

Với tiềm năng to lớn, ngành thủy sản sẽ đóng vai trò động lực, đi đầu trong công cuộc đột phá phát triển “Mô hình sản xuất nông nghiệp đa chức năng”, một nội dung quan trọng trong Thông điệp đầu năm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Sứ mệnh đặc biệt

Với tổng sản lượng thuỷ sản năm 2013 đạt gần 6 triệu tấn đã giúp nâng bình quân đầu người dân Việt Nam một năm về thuỷ sản lên hơn 66,5kg. Đây là con số có ý nghĩa hết sức đặc biệt đối với đời sống kinh tế – xã hội người Việt Nam hôm nay. Bởi với một nước trên 90 triệu dân, mà tổng sản lượng các loại thịt gia súc gia cầm năm 2013 mới đạt khoảng 4,3 triệu “tấn hơi xuất chuồng”, nghĩa là Việt Nam còn là “quốc gia nghèo” về nguồn thịt thực phẩm. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới phát triển thể chất giống nòi. Như vậy, nếu nghèo cả “tôm – cá” ở cả vĩ mô, cả chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chắc chắn không thể kiềm giữ được lạm phát ở mức như hiện nay.

Với nhịp độ tăng trưởng khoảng 5,5%/năm trong 3-4 năm gần đây, theo số liệu Tổng cục Thống kê, tổng sản lượng thuỷ sản năm 2013 lớn gấp gần 2 lần năm 2005. Giá trị sản xuất thuỷ sản theo giá hiện hành từ 63.678 tỷ đồng năm 2005 tăng lên hơn 230.000 tỷ đồng năm 2013, gấp 3,5 lần so năm 2005… Nhờ đó, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản năm 2013 đã đạt trên 6,7 tỷ USD, loại trừ kim ngạch nhập khẩu, thủy sản xuất siêu trên 6 tỷ USD, trở thành mặt hàng xuất siêu lớn thứ 4 của cả nước và là mặt hàng duy nhất có yếu tố trong nước sau 3 mặt hàng có yếu tố ngoại quốc (điện thoại di động, dệt may-giày dép và dầu thô). Trong đó, đáng chú ý, riêng tôm đông lạnh xuất khẩu từ 1,27 tỷ USD năm 2005 lên gần 2 tỷ USD năm 2013, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu tôm hàng đầu thế giới, và cá đông lạnh xuất khẩu (chủ yếu cá tra, cá basa) cũng từ 0,6 tỷ USD năm 2005 lên khoảng 2,5 tỷ USD năm 2013…

Từ các góc nhìn vĩ mô có thể khẳng định, ngành thuỷ sản đang và sẽ là một trong những ngành mũi nhọn sáng giá của nền kinh tế biển Việt Nam, cả hiện tại và tương lai.

Tăng đầu tư, mở rộng liên kết

Đạt được kết quả nêu trên là nhờ sự hỗ trợ to lớn và hiệu quả của Nhà nước, mà tiêu biểu là sự phát triển vượt bậc của đội tàu khai thác hải sản xa bờ với tổng công suất vượt 6 triệu CV, gấp hơn 2 lần năm 2005, theo Tổng cục Thống kê, hiện có khoảng 28.000 chiếc tàu so với 20.537 chiếc năm 2005. Tuy nhiên, những kết quả đạt được, theo đánh giá của các chuyên gia, vẫn chưa tương xứng với tiềm năng biển của Việt Nam.

Hơn 66kg thuỷ sản/đầu người/năm vẫn là con số khiêm tốn so với nhiều quốc gia có biển trên thế giới. Năm qua cả nước đã phải nhập khẩu hàng triệu tấn thức ăn chăn nuôi trị giá hơn 3 tỷ USD, tăng 23,6% so năm trước, trong đó, ngoài ngô, đậu tương, khô lạc thì bột cá luôn là chất liệu chủ lực mà nhập khẩu mỗi năm một nhiều. Có thể nói, ngành chăn nuôi gia súc gia cầm ở Việt Nam chưa phát triển được như mục tiêu kế hoạch đề ra từ hơn 10 năm trước, một phần là do thiếu sự “hậu cần, hậu thuẫn” của ngành thuỷ sản.

Hơn nữa, hiện còn rất thiếu những sản phẩm thuỷ sản chế biến cao cấp, có giá trị gia tăng cao, là những sản phẩm có thể phục vụ đắc lực cho các hoạt động du lịch và xuất khẩu. Nguyên nhân xuất phát từ sự “…thiếu  liên kết, năng suất và chất lượng thấp trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt”, đánh giá của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Theo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Nhà nước sẽ có cơ chế chính sách thúc đẩy ứng dụng sâu rộng khoa học công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin vào sản xuất, quản lý nông nghiệp và đẩy nhanh CNH nông nghiệp, HĐH nông thôn. Hình thành chuỗi giá trị, bảo đảm hài hoà lợi ích của các chủ thể tham gia từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ. Từng bước hình thành những tổ hợp nông – công nghiệp – dịch vụ công nghệ cao gắn kết chặt chẽ với người nông dân và hướng tới xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp đa chức năng, phát triển bền vững.

Hiện thực hóa những ý tưởng nêu trên của Thủ tướng Chính phủ, không chỉ ngành trồng trọt, chăn nuôi, mà cả ngành thuỷ sản sẽ có bước đột phá phát triển, đưa nền nông nghiệp Việt Nam tiến lên phát triển toàn diện, bền vững.

Tuy vậy, bên cạnh những chính sách, giải pháp của Chính phủ, rất cần mở rộng liên kết liên doanh, hợp tác đầu tư trong nước, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài, để lấp đầy dần “vùng lõm” trong khu vực nông – lâm – thuỷ sản hiên chỉ chiếm chưa đầy 1,5% tổng vốn FDI tại Việt Nam./.

Theo VEN

Giới thiệu quỹ “Ủy thác tín dụng xanh” tại Thái Bình

Sáng 9/1/2014, Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Thái Bình tổ chức tổng kết hoạt động năm 2013 và triển khai phương hướng, nhiệm vụ năm 2014. Tới tham dự hội nghị có sự có mặt của đồng chí Phạm Văn Xuyên – Phó chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình, đại diện các doanh nghiệp, đại diện các Sở, ngành tỉnh Thái Bình và đại diện Quỹ Ủy thác tín dụng xanh giới thiệu Quỹ tới các doanh nghiệp.

Tại hội nghị, ông Bùi Đình Trọng Phó trưởng ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Thái Bình đã báo cáo tổng kết hoạt động các khu công nghiệp năm 2013 và nêu rõ phương hướng và nhiệm vụ năm 2014.

Tính tới năm 2013, trên địa bàn tỉnh có 05 khu công nghiệp đã thành lập theo quy định của Chính phủ là Phúc Khánh, Nguyễn Đức Cảnh, Gia Lễ, Sông Trà và Cầu Nghìn với 138 dự án đầu tư và ước tính 47.400 lao động làm việc. Giá trị sản xuất đạt hơn 4.900 tỷ đồng, tăng 13,7% so với cùng kì năm trước. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ở các khu công nghiệp trong năm cơ bản ổn định, tốc độ tăng trưởng khá. Tuy nhiên, còn nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất, một số doanh nghiệp sản xuất cầm chừng, thậm chí tạm ngừng sản xuất.

Trong định hướng phát triển và nhiệm vụ đề ra cho năm 2014, ngoài việc tiếp tục thu hút các dự án đầu tư lớn và có giá trị gia tăng cao, Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh cũng như các doanh nghiệp đều nhận thấy tầm quan trọng của sản xuất bền vững và thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, các doanh nghiệp hiện đang gặp khó khăn về vốn cũng như còn chưa được tiếp cận với các công nghệ sản xuất mới hiện đại.

Bà Nguyễn Lê Hằng – Điều phối viên quỹ Ủy thác Tín dụng xanh giới thiệu nguồn Quỹ

Nhằm giúp đỡ doanh nghiệp tháo gỡ những khó khăn này, bà Nguyễn Lê Hằng – điều phối viên quỹ Ủy thác Tín dụng xanh (GCTF) thuộc Trung tâm sản xuất sạch hơn Việt Nam (VNCPC) đã giới thiệu đến các doanh nghiệp nguồn quỹ đầu tư của chính phủ Thụy Sỹ. Quỹ GCTF là nguồn vốn ưu đãi bảo lãnh tới 50% tổng giá trị đầu tư công nghệ cho các doanh nghiệp và trả thưởng tối đa tới 25% tổng giá trị đầu tư sau khi đầu tư công nghệ đạt các tiêu chí trả thưởng của quỹ. Đây là môt giải pháp rất hấp dẫn giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các công nghiệp hiện đại trong sản xuất, tăng tính cạnh tranh cho các doanh nghiệp và hướng các doanh nghiệp tới phát triển bền vững.

 

Đại diện doanh nghiệp phát biểu ý kiến tại Hội nghị

 Tại hội nghị, rất nhiều các doanh nghiệp đã bày tỏ sự quan tâm được tiếp cận với Quỹ để kịp thời tháo gỡ khó khăn và duy trì phát triển sản xuất kinh doanh cụ thể như công ty cổ phần ô tô An Thái Coneco, Nhà máy bao bì HDI.

Thông qua hội nghị tổng kết khu công nghiệp tỉnh Thái Bình, buổi giới thiệu Quỹ Ủy thác tín dụng xanh đã diễn ra thành công tốt đẹp và mở ra các cơ hội hợp tác của Quỹ với các doanh nghiệp tại tỉnh nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và góp phần phát triển hiệu quả của các khu công nghiệp.

Admin GCTF-VNCPC, tháng 1/2014

Kinh doanh bền vững với công nghệ sạch từ Thụy Điển

​Thụy Điển là quốc gia đi đẩu trong lĩnh vực công nghệ môi trường, nhiều công nghệ tiên tiên ra đời góp phần giảm áp lực lên môi trường, tài nguyên thiên nhiên. Với mong muốn chia sẻ những kinh nghiệm về quản lý và B VMT với Việt Nam, ngày 18/9/2013, tại Hà Nội, Trung tâm Công nghệ Môi trường Việt Nam – Thụy Điển (CENTEC) đã tổ chức Hội thảo Mô hình Phát triển bền vững của Thụy Điển: Kinh doanh bển vững với công nghệ sạch từ Thụy Điển.
Thụy Điển đã từ lâu tập trung đáu tư phát triển các công nghệ sạch và thân thiện với môi trường. Điểu đáng chú ý một trong những người đi đầu cổ vũ cho phong trào áp dụng công nghệ sạch là nhà vua Thụy Điển Carl-Gustav. Thụy Điển tự hào vẽ 2 dự án “thành phổ phát triển bền vững”, đó là Tomorrow tại Malmo và Hammarby Waterfront tại Stốckhôm, trong đó Malmo có thể coi là một ví dụ điển hình về “thành phố xanh”, bởi 39,9% mức tiêu thụ năng lượng là năng lượng tái tạo – biogas. Ngay từ những năm 1970, khi cả thế giới lâm vào cuộc khủng hoảng dầu lửa, Thụy Điển đã đầu tư nghiên cứu các công nghệ liên quan đến năng lượng tái tạo. Những công ty lớn của Thụy Điển như Errisson hay Volvo đã và đang nghiên cứu cho ra đời các sản phẩm thân thiện với môi trường.
Theo bà Camilla Mellander Đại sứ Thụy Điển tại Việt Nam, Thụy Điển và Việt Nam đã có quan hệ hợp tác chặt chẽ trong suốt 44 năm qua. Thụy Điển đã góp phẩn giúp Việt Nam trong công tác xóa đói, giảm nghèo và cải thiện việc sử dụng bển vững nguồn tài nguyên thiên nhiên. Thông qua Hội thảo này, Thụy Điển sẽ giới thiệu đến Việt Nam những công nghệ xanh và sạch; kết nối nhu cầu vẽ công nghệ môi trường của Việt Nam tới các đối tác Thụy Điển; hỗ trợ quản lý môi trường bền vững bao gốm sáng tạo mới vế công nghệ cũng như là các giải pháp mang tính hệ thống và tổng thể; tạo ra các cơ hội hợp tác có lợi cho cả hai bên đỗi tác trong lĩnh vực môi trường.
Một sổ công nghệ môi trường nổi bật của Thụy Điển đã được giới thiệu tại Hội thảo như:
  • Công nghệ xử lý nước uống từ các nguồn nước khác nhau thành nước 99,99% tinh khiết của BLAB/ JOSAB. Công nghệ này xử lý nước không sử dụng hóa chất, loại bỏ được vi khuẩn, ký sinh trùng và mầm bệnh có trong nước, giảm kim loại nặng bằng cách trao đổi ion, hấp thu amoniac, nho, nitorat, hydropsunfua, cacbondioxy, ethylen, dầu chuyển hóa.
  • Tiếp đến là công nghệ thu gom và xử lý bùn của KONSEB thực sự thông minh và hiệu quả. Thiết bị có tên ROBOT 90 có thể thu gom bùn trong bất kỳ loại bể chứa hay hổ chứa nào. Thiết bị DAB của KONSEB tách nước từ bùn một cách đơn giản.
  • Ngoài ra còn có công nghệ sấy khô nông sản bằng hệ thống năng lượng mặt trời;
  • Bể phản ứng biogas MR120 của ED BIOGAS AB la một thiết bị phản ứng biogas, nguyên liệu đẩu vào là rác thải hữu cơ, chuyển hóa ra biogas (mê-tan) giúp chạy phát điện hoặc nhiệt hay cấp nước nóng, chất thải còn lại không gây hại cho sức khỏe. Sản phẩm giúp giảm thiểu/loại bỏ yêu cầu vận chuyển rác thải, cung cấp phế phẩm sau phản ứng như phần bón và tiết kiệm đất dùng để chôn lấp rác thải…
Theo tin môi trường, vea.gov.vn

Dự án GetGreen Việt Nam

Thị trường cá tra EU-Phần II: Xu hướng và chính sách thu mua của các nhà bán lẻ hàng đầu

Tiếp theo phần I, phần II của Báo cáo “Tiềm năng thị trường cá tra sản xuất bền vững tại EU” đưa ra phân tích về những xu hướng và chính sách thu mua thủy sản của các nhà bán lẻ hàng đầu tại EU.
Thị trường cá tra EU-Phần II: Xu hướng và chính sách thu mua của các nhà bán lẻ hàng đầu
Sản phẩm cá tra đạt chứng nhận ASC bán tại siêu thị Sainsbury (Anh)

Thị trường EU phụ thuộc vào nguồn thủy sản NK để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ cá và thủy sản. Năm 2013, khả năng tự cung thủy sản của EU chỉ có thể đáp ứng nhu cầu đủ cho đến ngày 7/7, cho thấy gần một nửa tiêu thụ thủy sản của EU phụ thuộc vào nguồn NK.

Năm 2011, các loài cá NK như cá minh thái Alaska, cá ngừ và cá tra chiếm tới 40,3% tổng lượng tiêu thụ của Đức. Tại Hà Lan, cá ngừ đứng vị trí thứ 2, cá tra đứng vị trí thứ 3 về khối lượng trên thị trường.

Thị trường EU gồm 27 thị trường đơn lẻ với dân số dự kiến tăng thêm 21,3 triệu lên 522,3 triệu người vào năm 2030. Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) dự đoán tiêu thụ bình quân thủy sản sẽ tăng từ 22 lên 24 kg/người/năm. Do đó, EU vẫn sẽ là thị trường quan trọng cho sản phẩm cá và thủy sản.

Báo cáo của FAO về thị trường cá tra EU

Tháng 6/2013, FAO đưa ra báo cáo thị trường cá tra tại EU. Theo Eurostat, năm 2012, NK cá tra vào thị trường EU đạt 143.200 tấn, trị giá 376 triệu USD, giảm 22% về khối lượng và 24% về giá trị so với năm 2011. Giá trung bình NK giảm 2,4% còn 2,36 USD/kg năm 2012. Các thị trường chính tại EU là Tây Ban Nha, Hà Lan, Ba Lan và Đức đều giảm NK cá tra từ Việt Nam. Ngược lại, một số thị trường vẫn tăng trưởng như Bỉ, Hy Lạp và Latvia.

Tuy nhiên, tình hình vẫn khả quan tại một số thị trường như:

Đức: Dù NK cá tra vào Đức năm 2012 giảm nhưng cá tra vẫn phổ biến đối với người tiêu dùng tại đây. Đây là loài cá được tiêu thụ nhiều thứ 5 tại Đức. Mới đây, cá tra đạt tiêu chuẩn ASC đã có mặt trên thị trường. ASC là chứng nhận công nhận trại nuôi hoạt động có trách nhiệm và thân thiện với môi trường. Các sản phẩm cá tra dán nhãn ASC đầu tiên có xuất xứ từ 13 trại nuôi đạt ASC tại vùng ĐBSCL, chiếm 10% tổng sản lượng cá tra của Việt Nam. Hiện nay, sản phẩm dán nhãn ASC đã có mặt tại nhiều siêu thị trên toàn nước Đức như Topsea, Frosta, Femeg, Queens and Profish.

Pháp: Trong 10 năm gần đây, Tập đoàn Carrefour, nhà bán lẻ lớn thứ 2 thế giới luôn tích cực nâng cao chất lượng sản phẩm thủy sản. Nhận thức được yêu cầu khẩn cấp của toàn cầu trong việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản và tương lai của ngành thủy sản, Carrefour đã cam kết đóng góp vào việc tiêu thụ thủy sản bền vững.

Để đạt mục tiêu đề ra, Carrefour xây dựng chuỗi cung cấp thủy sản tươi và đông lạnh gắn liền với các mối quan tâm về môi trường và được chứng nhận đạt các tiêu chuẩn chất lượng khắt khe. Tất cả các sản phẩm cá tra tươi và đông lạnh của tập đoàn này đều có chứng nhận GlobalGAP.

Một trong những điểm chính trong chính sách của Carrefour là bảo đảm sự minh bạch và cung cấp thông tin cho người tiêu dùng. Carrefour chủ động liên kết người tiêu dùng với một trang web dành cho người tiêu dùng thủy sản đạt chứng nhận GlobalGAP. Trang web này là một phần của chiến dịch nâng cao nhận thức của người tiêu dùng của GlobalGAP.

Từ năm 2013, Carrefour in địa chỉ trang web www.mon-poisson.info trực tiếp trên bao gói của tất cả các sản phẩm cá tra đông lạnh bán dưới thương hiệu của Carrefour tại hệ thống siêu thị của tập đoàn tại EU. Trang web về nuôi trồng thủy sản sẽ cung cấp cho khách hàng của Carrefour các thông tin về tiêu chuẩn Thực hành nuôi tốt của GlobalGAL. Người tiêu dùng cũng có thể tra cứu xuất xứ của thủy sản họ ăn thông qua bằng công cụ tra cứu sử dụng bộ mã số 13 con số – số đăng ký GlobalGAP (GGN) – được GlobalGAP cấp riêng cho từng nhà sản xuất đạt chứng nhận và được ghi trên bao bì sản phẩm. Dữ liệu và công cụ tìm kiếm được đăng tải trên trang web của GlobeGAP và  được kết nối với trang web www.mon-poisson.info.

Anh: Sainsbury là nhà bán lẻ lớn đầu tiên tại Anh giới thiệu sản phẩm cá tra đạt chứng nhận ASC (River Cobbler). Đây là một bước tiến trong xu hướng sử dụng nguồn cá thay thế được nuôi có trách nhiệm thay thế cá tuyết và cá haddock trên thị trường.

Cá tra có xuất xứ từ khu vực ĐBSCL, được nuôi thương phẩm từ đầu những năm 2000. Từ năm 2011, Sainsbury đã hợp tác với Hội đồng Nuôi trồng thủy sản (ASC) để đảm bảo cá mua từ Việt Nam đều đạt chứng nhận. Quy trình chứng nhận bao gồm hoạt động đánh giá các tiêu chí toàn diện về môi trường và xã hội do tiêu chuẩn ASC đề ra như: các yêu cầu đảm bảo tính đa dạng sinh học trong khu vực, tác động tới các cộng đồng xung quanh trại nuôi, thức ăn nuôi cá được lấy từ những nguồn cung bền vững và có thể truy xuất.

Theo hệ thống cảnh báo nhanh đối với thực phẩm và thức ăn chăn nuôi của EU (RASFF), cảnh báo đối với cá tra NK từ Việt Nam giảm đáng kể từ 24 trường hợp năm 2010 xuống còn 4 trường hợp năm 2012. Đồng thời số lô bị trả về giảm từ 14 lô xuống còn 2 lô.

Chính sách thu mua

Chính sách thu mua của các nhà bán lẻ hàng đầu EU thường gắn liền với các mục tiêu của các tổ chức phi chính phủ quốc tế; 75% trong số 20 nhà bán lẻ hàng đầu EU cam kết phát triển bền vững.

Các nhà bán lẻ đưa những cam kết tham gia chương trình chứng nhận nuôi trồng thủy sản vào trong chính sách thu mua của họ. Hiện EU có 5 nhóm chương trình chứng nhận nuôi trồng thủy sản chính: Hội đồng Quản lý Nuôi trồng thủy sản (ASC), Friend of the Sea (FOS), Liên minh Nuôi trồng thủy sản Toàn cầu (GAA), GlobalGAP và các chương trình nuôi sinh thái (ở trong và ngoài EU).

– ASC hợp tác với các nhà bán lẻ: Ahold  (Hà Lan);  Metro Group  và  Edeka  (Đức);  và  Migros  (Thụy Sĩ).

– Friend of the Sea cũng công bố lên trang web danh sách các nhà cung cấp thủy sản đạt chứng nhận của họ tại EU; trong đó ba nhà cung cấp chính cá tra tại EU chủ yếu ở Hà Lan và Thụy Sĩ.

– GAA hợp tác với: Aldi UK, ASDA, The Co-operative, Morrisons,  Tesco  và  Waitrose  (Anh);  Delhaize  (Bỉ);  Metro  Group  và Rewe  (Đức);

– Ủy ban Kỹ thuật Nuôi trồng thủy sản của GlobalGAP hợp tác với: Aldi  Süd,  Metro  Group  and  Rewe  (Đức);  El  Corte  Inglés  (Tây Ban Nha);  Aldi  UK,  ASDA, Morrisons, Sainsburys and Tesco (Anh); Ahold (Hà Lan) và Carrefour (Pháp và Tây Ban Nha).

Nhận thức về tính bền vững của thủy sản phụ thuộc vào từng nhà bán lẻ tại từng quốc gia. Một số nhà bán lẻ của Anh là Marks & Spencer Plan A hay Sainsbury xếp thủy sản bền vững vào nhóm ý tưởng sáng kiến. Các nhà bán lẻ khác như Rewe (Đức) lại xây dựng thương hiệu riêng cho thủy sản bền vững như Pro Planet.

Các tiêu chí thu mua thủy sản nuôi của nhà bán lẻ có thể vượt khỏi tầm một chương trình chứng nhận đơn lẻ và bao gồm các vấn đề chính phải đối mặt như sức khỏe động vật, thức ăn nuôi thủy sản không chứ thành phần nguyên liệu biến đổi gen hay truy xuất nguồn gốc.

Sáng kiến của GSSI

Tổ chức Sáng kiến Thủy sản bền vững Toàn cầu (GSSI) đã đưa ra một sáng kiến mới bao gồm nhiệm vụ và những mục tiêu rõ ràng để giúp các nhà bán lẻ đánh giá các chương trình chứng nhận khác nhau.

Mục tiêu của GSSI là đưa ra một công cụ chung, nhất quán và mang tính toàn cầu cho các chương trình chứng nhận và dán nhãn thủy sản nhằm đảm bảo niềm tin trong việc cung cấp và quảng bá thủy sản bền vững tới người tiêu dùng trên toàn cầu, cũng như thúc đẩy sự phát triển của những chương trình chứng nhận đó.

GSSI đặt ra mục tiêu:

– Tạo ra sự đồng thuận đối với các tiêu chí và chỉ số để đo lường và so sánh các chương trình chứng nhận và dán nhãn thủy sản, nhằm tạo điều kiện thực hiện và áp dụng những chương trình này;

– Tạo ra nền tảng cho nhiều đối tượng khác nhau trong ngành hợp tác và trao đổi kiến thức về tính bền vững của thủy sản;

– Giảm thiểu chi phí thông qua loại bỏ sự trùng lặp và nâng cao tính hiệu quả của các chương trình chứng nhận và dán nhãn, từ đó tăng khả năng thích ứng và linh hoạt trong chuỗi cung cấp.

GSSI đang tiếp tục phát triển sáng kiến để tiến tới áp dụng trên quy mô toàn cầu vào năm 2015. Một số đối tượng trong ngành thủy sản tại EU đã tham gia sáng kiến này.

Xem Báo cáo bản tiếng Anh tại đây

Theo Vasep.com.vn